Chào mừng quý vị đến với Blog: Quà tặng cuộc sống.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Văn nghệ sĩ viết về văn nghệ sĩ >

Lạ lùng chuyện bút danh

Trong khi một số người trên mạng dùng “bút danh” đồng nghĩa với nặc danh thì trái lại, bút danh của giới văn nghệ sĩ luôn gây tò mò cho người hâm mộ. Mỗi người lấy bút danh đều có lý do riêng với rất nhiều bất ngờ thú vị. Dưới đây là bài của Nguyễn Viết Chính về chuyện bút danh viết theo tư liệu do nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã công bố trong tập sách “Chuyện ít biết về văn nghệ sĩ” do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành năm 2001. Xin giới thiệu cùng các bạn.

Thư của bạn Vũ Xuân Trường Dũng, thay mặt cho nhóm bạn đọc ở Hà Nội, gửi nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo Nguyễn Trọng Tạo rằng: “Chúng tôi thường nghe đồn đại nhà văn Phù Thăng chỉ là bút danh, còn tên thật của ông là Phu. Ông lấy bút danh Phù Thăng, nói lái lại là Thằng Phu, điều ấy có đúng không ?". Tại sao nhà văn lại tự diễu mình đến cả khi đặt cho mình một cái tên mới để làm một sự nghiệp hết sức nghiêm chỉnh là văn chương ? Hoá ra cái bút danh mà bạn đọc cho là “tự diễu mình” đó lại xuất phát từ một kỷ niệm rất đẹp trong thời trai trẻ trong quân ngũ của nhà văn. Nhà văn Phù Thăng tên thật là Nguyễn Trọng Phu, quê ở Hải Dương. Chưa đầy 18 tuổi đã tham gia quân đội trong kháng chiến chống Pháp, thuộc trung đoàn 42. Là người trẻ nhất trung đoàn, nên ông thường hay được “sai vặt” những việc phu phen tạp dịch. Mãi đến độ thành quen, anh em cần cái gì ai cũng “thằng Phu”. Đến khi trở thành nhà văn, nhớ lại những kỷ niệm xưa, ông đã tự lấy bút danh là “Phù Thăng” để nhớ lại những kỷ niệm của một thời không bao giờ quên. Tuy nhiên, theo lí giải của nhiều người thì Thăng theo nghĩa chữ Hán là “lên”, còn “Phù”, theo nghĩa chữ Hán có đến 20 từ đồng âm khác nghĩa, và có người cho rằng, chữ "Phù" ông dùng có nghĩa là “thổi” hoặc “nâng”. Phù Thăng có nghĩa là “Thổi lên”, hoặc “Nâng lên” đều mang ý nghĩa đẹp. Nhưng riêng ông, vốn thông thạo tiếng Pháp, nên ông thích dùng từ này, bởi Phù Thăng đọc theo Pháp ngữ từ hai chữ Fou Thăng có nghĩa là “Thăng Điên” ! Ai bảo chuyện cái bút danh như thế là không hay nhỉ?

Lại có bạn đọc, khi đọc tiểu thuyết “Đồng bạc trắng hoa xoè” và tập truyện “Mùa mận hậu” của nhà văn Ma Văn Kháng thì cho rằng, nhà văn chính là người dân tộc Tày. Nhưng thực ra, nhà văn là người dân tộc kinh, gốc Hà Thành hẳn hoi. Tên thật của ông là Đinh Trọng Đoàn, tham gia quân đội từ khi còn là thiếu niên, rồi đi học ở khu học xá Trung Quốc, rồi học đại học Sư phạm Hà Nội, lên là ông giáo ở Lào Cai. Sau đó ông làm thư ký cho Bí thư Tỉnh uỷ, rồi chuyển sang làm phóng viên báo tỉnh. Khi viết văn và làm báo, ông không bao giờ kí tên thật của mình mà lấy bút danh là Ma Văn Kháng. Bút danh này đã trở thành “bí danh”. Bởi cho đến bây giờ, nếu không phải là thân hữu thì không ai biết tại sao ông lấy bút danh Ma Văn Kháng; và nếu không phải là người trong giới văn chương thì mọi người làm sao biết được Ma Văn Kháng là Đinh Trọng Đoàn ! Cũng bởi chuyện bút danh mà có hai bố con cùng mê bài hát “Năm anh em trên một chiếc xe tăng” đã có những cuộc tranh cãi “nảy lửa” mà không phân thắng bại. Họ lại phải viết thư đến “Hộp thư văn nghệ” của báo Tiền Phong để hỏi. Người con thì cho rằng, nhạc sĩ Doãn Nho đã phổ nhạc bài thơ của ông Hữu Thỉnh, còn ngưòi bố thì một mực: “Năm 1971, bố đọc bài thơ này trên báo và tác giả bài thơ là Vũ Hữu”. Thì ra, Hữu Thỉnh và Vũ Hữu, tuy hai mà một. Vũ Hữu chẳng qua là bút danh của Hữu Thỉnh mà thôi. Có người cho cái bút danh Vũ Hữu của nhà thơ Hữu Thỉnh xuất phát từ kỷ niệm với nhà thơ Vũ Duy Thông là người bạn thơ nhận là con nuôi trong gia đình. Hai người có nhiều điều tâm đắc nên lấy họ của cả hai ghép lại thành bút danh. Nhưng nhà thơ lại tiết lộ rằng: Hồi ông còn trong quân ngũ, ông mê một nàng họ Vũ rất xinh đẹp ở đất Vĩnh Yên. Mối tình không thành, nhưng hình bóng người con gái đó thì gắn chặt trong ông để bật lên cái bút danh Vũ Hữu.

Thú vị nhất là cũng vì chuyện cái bút danh mà nhiều người “bé cái nhầm”. Ví như nhà thơ Nguyễn Hoa, có bạn đọc đã có lời tâm sự rằng: “Tôi rất thích câu thơ “Em là muối ướp nỗi đau tươi mãi”, của nữ thi sĩ Nguyễn Hoa… Nếu không phải là người phụ nữ từng trải và rất tinh tế thì …”. Nhưng hoá ra Nguyễn Hoa tên thật là Nguyễn Hoa Kỳ. Cái tên nghe có vẻ “đế quốc” quá, nên khi ông gửi thơ in báo (tất nhiên là trong thời kì kháng chiến chống Mỹ rồi) ký tên Nguyễn Hoa Kỳ, người biên tập đã bỏ đi chữ Kỳ, còn lại Nguyễn Hoa, từ đó, Nguyễn Hoa trở thành bút danh của ông. Cũng cái tên Nguyễn Hoa Kỳ này mà làm rắc rối nhiều chuyện. Ông tham gia quân đội, rất dũng cảm trong chiến đấu và được mọi người yêu mến, tin cậy. Chi bộ xét kết nạp ông vào Đảng, nhưng cái tên Nguyễn Hoa Kỳ làm họ đình lại. Nhưng vì ông là người rất tốt, nên bí thư chi bộ đã quyết định đổi tên ông thành Nguyễn Hồng Kỳ và cả chi bộ tán thành kết nạp ông vào Đảng. Thẻ Đảng của ông được mang tên Nguyễn Hồng Kỳ từ đó. Cũng trường hợp tương tự như nhà thơ Nguyễn Hoa Kỳ, ở xứ Nghệ, có một nhà báo cũng khá nổi tiếng và quen thuộc đối với bộ đội thời chống Mỹ, là một người sáng tác văn học rất say mê, như là “linh hồn” của Văn nghệ Quân khu 4 một thời. Một số truyện ngắn, truyện ký của ông đã “hớp hồn” nhiều lớp người ở mọi lứa tuổi. Phần lớn các truyện ngắn này (đã tập hợp thành sách “Suối thì thầm” - NXB Quân đội ấn hành), được kí với những cái tên đầy nữ tính. Nào là Diễn Ngọc, nào là Minh Loan hay Tâm Minh. Tò mò, nhiều bạn đọc đã gửi thư về “Hộp thư văn nghệ” trên báo Tiền phong để hỏi về “cô” nhà báo có duyên viết truyện ngắn này. Hoá ra, tất cả các tên gọi trên đều là bút danh của nhà báo Đậu Kỷ Luật. Cái tên mà khi ông xưng danh với nhiều vị quan chức, họ đều ngạc nhiên hỏi: “Anh đùa tôi đấy à?”. Chỉ có một ông giám đốc ở lâm trường Hương Sơn (Hà Tĩnh) tin ngay vì ông giám đốc đó có tên là Phạm Tự Do. Từ đó, hai ông: Đậu Kỷ Luật và Phạm Tự Do kết thân với nhau. Hỏi về bút danh của ông, ông cười: “Diễn Ngọc” là quê tôi (xã Diễn Ngọc, huyện Diễn Châu, Nghệ An), còn “Minh Loan” là tên con gái tôi, chỉ có “Minh Tâm” là tôi muốn lòng tôi trong sáng hơn …”. Và ông lại cười, nụ cười ấm áp, đầy tình người.

Một nhà thơ nổi tiếng khác thuộc phái mạnh cũng có cái bút danh rất dễ thương, đầy nữ tính. Đó là nhà thơ Bùi Minh Quốc với bút danh Dương Hương Ly. Cái bút danh này là một chuyện tình đầy lãng mạn. Hồi chưa lập gia đình, Bùi Minh Quốc đã có nhiều truyện và thơ viết về thiếu nhi rất hay, trong đó có truyện “Bé Ly và chú công nhân chữa điện”. Một hôm, ông bất ngờ nhận được bức thư của một nữ nhà văn trẻ viết cho ông để bày tỏ tình cảm mến yêu về truyện và thơ của ông, đặc biệt là chị rất thích cái tên “bé Ly” nghe thật dễ thương và trìu mến. Nữ nhà văn đó tên là Dương Thị Xuân Quý. Ông cảm động trước tình cảm đó và viết thư trả lời. Hai người quen nhau và như được khích lệ, ông viết tiếp những câu chuyện cho thiếu nhi mà nhân vật chính đều mang tên “bé Ly”. Sau khi lấy nhau, Dương Thị Xuân Quý rất mong sinh con gái đầu lòng và bàn với chồng là sẽ đặt tên con gái là Bùi Dương Hương Ly. Khi Xuân Quý có thai được hai tháng, ông đã có thơ tặng con gái tương lai với hai câu mở đầu là: “Hương Ly con của tình yêu/ Hương Ly con của những triều ái ân”. Bé Hương Ly ra đời được 16 tháng tuổi, cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, hai vợ chồng nhà văn gửi bé Hương Ly cho ngoại rồi cùng lên đường vào mặt trận. Ngày 8/3/1969, nhà văn Dương Thị Xuân Quý hy sinh tại Duy Xuyên (Quảng Nam). Thời gian này, Bùi Minh Quốc lấy bút danh là Dương Hương Ly, in tập thơ nổi tiếng “Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ”. Còn bé Hương Ly xưa, nay đã là một phóng viên xuất sắc có nhiều bài viết có giá trị. Ngoài ra, những bút danh của các văn nghệ sĩ khác thì có nhiều người đã viết, đã biết như nhà thơ Hà Đức Trọng có bút danh là Thu Bồn (tên con sông đẹp và thơ mộng quê ông); cũng như Nguyễn Khắc Hiếu lấy bút danh là Tản Đà (ghép tên con sông Đà và núi Tản Viên); Nhà văn Nguyễn Sen thì lấy bút danh là Tô Hoài; rồi nào là Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quang Dũng; thậm chí đến cả một “trường phái bút danh” như Tú Xương, Tú Mỡ, Tú Nạc, Tú Sụn, Tú Gân, Tú Thịt, Tú Ba Rọi, Tú Lông, Tú Cốt v.v… Chao ôi, chuyện bút danh của giới văn nghệ sĩ, nhắc mãi mà vẫn thấy thú vị, phải không các bạn?!

Nguyễn Viết Chính


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Thành Tựu @ 15:26 01/07/2009
Số lượt xem: 810
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến