Chào mừng quý vị đến với Blog: Quà tặng cuộc sống.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

BÀN THÊM VỀ CÁI CỔ TRUYỀN VÀ CÁI ĐỘC ĐÁO TRONG THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

Nhấn vào đây để tải về
Hiển thị toàn màn hình
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hang Nga (trang riêng)
Ngày gửi: 00h:12' 30-03-2009
Dung lượng: 73.0 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích: 0 người
Bàn thêm về tương quan giữa cái cổ truyền và cái độc đáo trong thi pháp trung đại (Về những phóng tác trong các nền văn học cổ điển Trung Cận đông) GS.TS. A.B. Kudelin Viện Hàn lâm khoa học Nga



    
Theo lẽ thường, độc giả đương thời có ý niệm về văn học, căn cứ trên sự hiểu biết về sáng tác của các nhà văn thế kỷ XIX-XX, hẳn sẽ rất ngạc nhiên trước sự đa dạng của các kiểu phóng tác và vai trò lớn lao mà chúng đóng trong các nền văn học trung đại ở Trung Cận Đông. Tâm trạng bối rối trong nhiều năm không từ bỏ cả các nhà chuyên môn, những nhà nghiên cứu văn học trung đại, bởi lẽ trong trường hợp này, chính họ đã bắt gặp một hiện tượng đặc thù trong lịch sử văn học thế giới, đòi hỏi phải có sự lí giải.Trong bài viết này chúng tôi thử cố gắng xác định những đặc điểm của hiện tượng này về phương diện thi pháp học lịch sử.
 
Trước hết xin có vài lời về những thuật ngữ phổ biến nhất chỉ sự phóng tác. Các nhà lí luận văn học thời trung đại đã liệt kê danh sách này gồm: djavab (nguyên văn “đối đáp”), tatabbu’ (nguyên văn “kế tiếp”), nazira (nguyên văn “tương tự”), istikbal (nguyên văn “tiếp đón trọng thể), taklid (nguyên văn “bắt chước), pairavi (nguyên văn: “bước theo vết chân”), mukabila (nguyên văn “đón gặp”), v.v... tất cả gồm mười thuật ngữ. Tuy nhiên, được sử dụng thường xuyên hơn cả là ba thuật ngữ đầu tiên. Nội hàm những thuật ngữ này trong các công trình có uy tín bằng tiếng Arap, tiếng Ba Tư, các ngôn ngữ hệ Tuyếc và tiếng Urdu không được xác định một cách chính xác, do vậy thiếu sự phân định một cách rạch ròi ranh giới hiện tượng mà nó biểu đạt. Tuy nhiên điều khiến chúng ta quan tâm hiện nay không phải là những định nghĩa chính xác, mà là bản chất của hiện tượng, những dấu hiệu đặc trưng nhất, được lặp lại trong phần lớn các loại hình “mô phỏng”.
 
Nếu như người ta phóng tác một tác phẩm trữ tình, thì ở đó nhất thiết phải có sự lặp lại niêm luật, âm vận, redif (một loại vần lưng - N.D) (nếu có), thông thường hơn cả là đề tài và một thủ pháp nghệ thuật nào đó (thể thơ gazel, Rubai, kaxưđa - Các thể thơ phổ biến ở Trung Cận Đông ở giai đoạn trung thế kỷ - N.D). Khi phóng tác mang tính chất trần thuật cần phải lặp lại thể thơ những thành phần cơ bản của cốt truyện, số lượng chương mục, v.v... (mesnevi). Theo ý kiến của E.E. Bertels, điều kiện phóng tác những tác phẩm sử thi thậm chí còn khó hơn so với thơ trữ tình. “Bắt tay vào việc này, - học giả này viết, nhà thơ cần phải biết rót nội dung hoàn toàn mới vào khoảng trống giữa những điểm mấu chốt được đánh dấu từ trước, đưa vào những nguyên cớ hành động mới của các nhân vật của mình, thay đổi tính cách và tâm lí của chúng” [Bertels 1965:435]. Những phóng tác có thể được viết không chỉ theo một tác phẩm sử thi đơn lẻ, mà còn theo vựng tập những tác phẩm ấy. Trường hợp nổi tiếng nhất là bộ Ngũ thư (“Hamse”) của Nizami (khoảng 1141-1209) có truyền thống được phóng tác trong nhiều thế kỉ. Những phóng tác ở Trung Cận Đông thường được viết bằng thứ ngôn ngữ khác hẳn ngôn ngữ của “nguyên tác” (ví dụ dùng tiếng Tuyếc mô phỏng tác phẩm tiếng Ba Tư). Xin dẫn ra một vài ví dụ để minh hoạ.
 
Theo đơn đặt hàng của lãnh chúa al-Mansur, nhà thơ tán tụng nổi tiếng của Tây Ban Nha Hồi giáo Ibn Darraj al-Kastalli (958-1030) đã viết thi phẩm kasưda phỏng theo tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ lỗi lạc của thời đại Abbasid là Abu Nuvas (756-758 - khoảng 815). Nhà thơ Andalusia này đã lặp lại âm vận, niêm luật và một số nội dung chủ yếu trong tác phẩm của thi sĩ tiền bối. Tuy nhiên khi luận giải các nội dung mà Abu Nuvas đã đề cập tới, Ibn Daraj, như thường lệ, đã phát triển chúng chi tiết hơn. Kết quả là nhà thơ Andalusia này đã xử lí một cách thành công nhiệm vụ của mình và đã sáng tác nên tác phẩm đem lại cho ông một tiếng tăm rất rộng lớn ở phương Đông và phương Tây (Chi tiết xin xem: [Kudelin 1973:52-55]).
 
Nhà thơ sáng tác bằng tiếng Farsi (tiếng Ba Tư trung cổ - N.D) Isfahana Kamal ad-Din Ismail (khoảng 1172/73 - 1237) đã sáng tác thi phẩm độc nhất vô nhị, ở đó
Avatar
MÓN QUÀ RA MẮT XIN PHÉP ĐƯỢC LÀ THÀNH VIÊN TRANG CỦA THẦY. TRANG CỦA THẦY CÓ NHIỀU TƯ LIỆU THẬT HAY.
 
Gửi ý kiến